|
|
|
|
Số 90 11-11-2006Thư Ṭa Soạn Kính thưa quư độc giả,
Ngày 7 tháng 11 vừa qua, Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) đă chính thức kết nạp Việt Nam làm thành viên thứ 150. Theo một bản tin trong nước, “Gia nhập vào WTO, thế hệ người Việt chúng ta đang thực hiện những ǵ mà ông cha hằng mong mỏi. Trước tiên, đó là kết quả diệu kỳ của 20 năm đổi mới, của những vật lộn trăn trở, để đến nay kết tinh vào một quyết định lịch sử: chúng ta đă đủ lực để hội nhập hoàn toàn với thế giới. Và thế giới đă đón nhận vị thế của Việt Nam!” Cũng trong tháng 11, Việt Nam háo hức đợi chờ để đón chào 21 nguyên thủ các cường quốc có nền kinh tế lớn mạnh nhất thế giới đến tham dự Diễn Đàn Hợp Tác Kinh Tế Châu Á-Thái B́nh Dương (APEC) lần thứ 14, sẽ được diễn ra từ ngày 17 đến 21. Trong dịp này, Việt Nam sẽ đón chào khoảng 10,000 tham dự viên, gồm hơn 7,500 khách quốc tế, trong đó có trên 5,000 đại biểu chính thức và phái đoàn; gần 1,000 đại biểu doanh nghiệp và 2,000 phóng viên sẽ đến tham dự Hội Nghị Thượng Đỉnh APEC và viếng thăm nước Việt Nam. Cả nước đang xôn xao chuẩn bị, hướng về biến cố này với niềm hănh diện, v́ đây là lần đầu tiên Việt Nam đóng vai tṛ nước chủ nhà đón mừng một Hội Nghị có tầm vóc quốc tế đặc biệt như APEC. Nhiều sinh viên, thiện nguyện viên, nhân viên, cán bộ, văn pḥng, hăng xưởng, các cấp ngành từ trung ương đến tỉnh thành được huy động để “ra mắt,” để “tŕnh làng” thế giới về một Việt Nam với những biểu tượng đẹp đẽ nhất, tự hào nhất về h́nh ảnh đất nước, con người, văn hoá, của thành công trong kinh tế. Một biến cố khác cũng đang được Việt Nam háo hức đợi chờ: niềm hy vọng trở thành ứng cử viên không thường trực của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc vào năm 2008-2009 khi được hầu hết các quốc gia châu Á đề cử. Giáo Hội Việt Nam vào thời điểm này cũng rộn ràng với kết quả của phái đoàn tham dự Hội Nghị quốc tế về truyền giáo. Đoàn đại biểu Giáo Hội Việt Nam gồm 15 thành viên đă cùng với 1,000 đại biểu của Châu Á tham dự Hội Nghị Truyền Giáo Á Châu, được tổ chức tại Chiang Mai, Thái Lan; từ 18 tới 22 tháng 10 vừa qua với chủ đề: Câu chuyện Chúa Giêsu Kitô ở Châu Á. Thêm vào đó là niềm vui của Đại Hội Giáo Lư Toàn Quốc lần thứ I được tổ chức tại Nha Trang trong hai ngày 07 và 08 tháng 11 năm 2006 đă diễn tiến và kết thúc tốt đẹp với đại diện hầu hết các giáo tỉnh gặp gỡ để chia sẻ về sinh hoạt giáo lư của Giáo phận nhà, cũng như thống nhất chương tŕnh soạn thảo tập Chỉ Nam Huấn Giáo của Hội Thánh Việt Nam. Ngoài ra, Giáo Hội Việt Nam sẽ đón tiếp phái đoàn Hội Đồng Giáo Hội Pháp sẽ chính thức viếng thăm từ 27 tháng 11 đến 05 tháng 12 để đáp lễ Phái đoàn Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đă thăm Giáo Hội Pháp vào năm ngoái. Phái đoàn sẽ đến Hà nội ngày 27 tháng 11 và ghé thăm Giáo Phận Kontum từ chiều 02 đến chiều 03 tháng 12 năm nay. Trước những biến cố lớn của cả nước đang diễn ra hiện nay, nhà sử học Dương Trung Quốc đă ví von rằng trong một thời gian dài, dù nằm bên cạnh Thái B́nh Dương, Việt Nam h́nh như đă sợ …biển. Tuy nhiên, thời cơ đă đến, Việt Nam đă hội tụ đủ điều kiện và vị thế để bước ra thế giới với niềm tự hào như hiện nay, đă dám “quay nh́n ra biển,” hội nhập với biển cả. Mà hội nhập với biển cả là ǵ nếu không phải là những hứng khởi, nao nức với chân trời rộng mở, tiếp thu bao điều mới lạ trong không gian bao la, nhưng chắc chắn không thiếu những thách đố đang đợi chờ, hiểm nguy phải đối phó. Chung niềm vui với dân tộc v́ những biến chuyển đáng mừng về kinh tế, xă hội khi Việt Nam bước ra biển lớn với thế giới hôm nay, Giáo Hội cũng ư thức sâu xa rằng mai đây con người, xă hội Việt Nam cũng sẽ đối diện với những thách đố không nhỏ về đời sống luân lư, tâm linh và tinh thần. Trước những dấu chỉ của thời đại này, Đức cha Bùi Tuần đă nhắc nhở: “Giáo Hội Việt Nam cần phải tỉnh thức luôn. Bên cạnh những điều đáng mừng cũng có nhiều cái đáng lo. T́nh h́nh phát triển đang và sẽ tạo ra cho đồng bào ta một cuộc sống khác xưa. Ḷng đạo cũng sẽ bị ảnh hưởng không ít. Nếu không tỉnh thức, tương lai đạo Chúa trên quê hương ta sẽ khó tránh được những hậu quả đáng buồn, như đă và đang xảy ra tại nhiều nước phát triển.” Cũng như đồng tiền có hai mặt Sấp Ngửa, niềm vui háo hức của Giáo Hội Việt Nam v́ những thành quả phát triển cũng sẽ phải đối diện những lo âu không thể tránh do những tiêu cực trong xă hội hiện nay. Hồng Y Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám Mục giáo phận Sàig̣n trong Thư “Gia Đ́nh Sống Đạo Hôm Nay” cũng bày tỏ trăn trở về t́nh h́nh: “Ngày nay, đâu đâu Nhà Thờ cũng đầy người tín hữu Việt Nam, Đại Chủng Viện và các Ḍng Tu Việt Nam cũng đầy ơn gọi. Đó là dấu chỉ gia đ́nh tín hữu Việt Nam là thửa đất màu mỡ đón nhận và vun trồng hạt giống Ơn Cứu Độ, hạt giống đức tin, hạt giống ơn gọi Ki-tô hữu: Ki-tô hữu Giáo Dân, Ki-tô hữu Linh Mục, Ki-tô hữu Tu Sĩ. Chúng ta hăy tạ ơn Chúa, v́ Người thương ban dồi dào Hồng Ân Cứu Độ cho các gia đ́nh tín hữu Việt Nam, là tế bào của Giáo Hội Việt Nam, tế bào của xă hội và của dân tộc Việt Nam. Thế nhưng, trên thửa đất màu mỡ gia đ́nh hôm nay, xuất hiện nhiều loại sâu rầy đe dọa sự tồn tại của những hạt giống ơn Chúa. Những loại sâu rầy đó là các tệ nạn xă hội, là nạn phá thai, bạo hành và ly dị mỗi ngày một phổ biến hơn. Gia đ́nh hôm nay cần làm ǵ để có thể vừa vượt qua nạn sâu rầy tàn phá, vừa trở nên thành tŕ kiên cố bảo vệ những hạt giống ơn Chúa gieo vào ḷng gia đ́nh, v́ sự sống vững bền của các gia đ́nh và cũng là của dân tộc chúng ta?” Bạn và tôi, những tín hữu Việt Nam tại hải ngoại hoặc trên quê hương, trong vai tṛ và ơn gọi của ḿnh, đang vui mừng chờ đón những biến cố lớn sắp đến, cũng sẽ chuyển ḿnh chung với niềm vui và trăn trở với Giáo Hội và quê hương. Như câu trả lời của Đức Hồng Y Godfried Danneels, Tổng Giám Mục Malines-Bruxelles trong cuộc đối thoại với kư giả báo Notre Dame Paris tại Đại Hội Quốc Tế về việc Tái Truyền Giáo Âu Châu với chủ đề “Phúc Âm Hóa tại Thủ đô Bruxelles” từ 28 tháng 10 đến 05 tháng 11, “Cho dù mỗi thành phố có bộ mặt, có những vấn đề và những sắc thái riêng, điều quan trọng là người ta ư thức về giá trị thích đáng của đức tin và của Giáo Hội đối với hạnh phúc của con người trong xă hội.” Hạnh phúc của đồng bào dân tộc, mục đích cao nhất của mọi thể chế trong xă hội loài người, sẽ không bao giờ đạt được trọn vẹn nếu con người quên xây dựng những giá trị tâm linh. Một cuộc sống dù đầy đủ vật chất, cũng sẽ không bao giờ đem lại câu trả lời cho những thao thức muôn đời của nhân loại. Chính v́ thế mà chúng ta luôn được nhắc nhở về sự ngắn ngủi của đời người, trước thực tế rằng rồi ai cũng sẽ phải đối diện với sự chết. V́ thế, Maranatha mời gọi độc giả tiếp tục suy niệm về bổn phận của ḿnh trong công cuộc truyền giáo, làm sao để sống theo tiếng lương tâm, và chạy đến với ân sủng thiêng liêng trong bí tích Thánh Thể. Hy vọng trước những dấu chỉ của thời đại, qua những chia sẻ và chuyện kể cuộc đời con người cụ thể, trong việc chăm sóc cho những người nghèo hay bị bỏ rơi, xin được như tâm t́nh của Đức cha Bùi Tuần: “mỗi người tín hữu chúng ta sẽ trở thành một ngọn đèn Tin Mừng trên Quê Hương Việt Nam, nơi chúng ta được sinh ra và mời gọi luôn gắn bó trung thành, dù phải đối phó với bất kỳ hoàn cảnh nào.” Trong tâm t́nh đó, chúng ta xin được cùng Đức Mẹ Maria dâng lên lời cầu nguyện thân thương: Maranatha, lạy Chúa Ki-tô, xin ngự đến!
Thư Ṭa Soạn ----------------------------------------------------------------------------------------- 1 Tâm Tư Trước T́nh H́nh Phát Triển – Gm. Bùi Tuần -------------------------------------------------------- 2 Mặt Sấp - Mặt Ngửa – Nguyễn Thế Bài---------------------------------------------------------------------------- 4 Lương Tâm – Đỗ Trân Duy ---------------------------------------------------------------------------------------- 5 Truyền Giáo Cho Từng Lứa Tuổi Hôm Nay – Nguyễn Thảo Nam & Lê Xuân Hy --------------------- 8 Linh Đạo Cho Giáo Dân Ngày Nay - Lm. Jess S. Brena, S.J.------------------------------------------ 12 Suy Niệm Về Sự Ngắn Ngủi Của Đời Người – J. B. Bossuet - Phan Mạnh Trinh dịch ------------------ 13 Sự Chết – Bùi Minh Huy ------------------------------------------------------------------------------------------- 14 Sống Thánh Thể Đẹp Ḷng Chúa – Thái Văn Hiến dịch----------------------------------------------------- 17 Lịch Sử Đời Em Đă Sang Một Trang Mới… – Michael Thái B́nh ------------------------------------------ 17 Ngày Con Sinh Ra – Bồ Câu Trắng ------------------------------------------------------------------------------ 19 Tập Thiền Để Trị Bệnh Mất Ngủ – Chu Tất Tiến ------------------------------------------------------------- 19 Tâm T́nh Cùng Bạn Đọc Thư Bạn Đọc---------------------------------------------------------- 21-22 ?¶?
TÂM TƯ TRƯỚC T̀NH H̀NH PHÁT TRIỂN Gm. Bùi Tuần Việt Nam ta đang được giới thiệu là một nước trên đà phát triển mạnh. T́nh h́nh này có nhiều cái đáng mừng và cũng có nhiều cái đáng lo. Trong lănh vực đạo Công giáo, t́nh h́nh phát triển nội bộ cần được phân định đúng. Có những phát triển giúp đời sống đạo thêm vững mạnh trong sáng. Cũng có những phát triển dần dà sẽ làm suy yếu tinh thần Phúc Âm. Nếu không tỉnh thức, tương lai đạo Chúa trên quê hương ta sẽ khó tránh được những hậu quả đáng buồn, như đă và đang xảy ra tại nhiều nước phát triển. Với ư thức đó, tôi xin chia sẻ tâm tư của tôi. Tâm tư này gồm 2 phần: I. Tâm niệm chân lư Phúc Âm và II. Thực hiện tâm niệm trong t́nh h́nh mới. I. Tâm Niệm Chân Lư Phúc Âm Nhiều phát triển của Đất Nước phải coi là quư giá, đáng mừng. Những phát triển đó mang hy vọng giúp con người, xă hội và cả tôn giáo đi lên. Tuy nhiên, người có đạo không nên ảo tưởng, coi mọi phát triển dễ chịu là những thần cứu độ, đem lại phần rỗi đời đời cho chúng ta. Để biết dùng những phát triển theo đúng hướng, đúng mức, chúng ta cần tâm niệm mọi Lời Chúa dạy. Riêng tôi, tôi không ngừng tâm niệm mấy lời Kinh Thánh sau đây: 1/ Chúa Giêsu phán: "Chính Thầy là Đường, là Sự thực và là Sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy" (Ga 14,6). Qua Lời Chúa phán trên đây, chúng ta vững tin Đức Giêsu Kitô chính là Đấng Cứu độ của chúng ta. Không có lực lượng nào, dù phát triển tới đâu, sẽ thay thế được Đấng Cứu thế của chúng ta. Ngài đă thương cứu chuộc ta bằng con đường nào, th́ bây giờ ta đă rơ, qua lời Ngài phán và qua thực tế xảy ra. 2/ Chúa Giêsu phán rằng: "Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại" (Lc 9,22). Những Lời Chúa Giêsu đă nói trước trên đây với các tông đồ, sau này đă thực hiện với nhiều chi tiết rất đớn đau. Nhưng đó là con đường Chúa đă chọn để cứu nhân loại khỏi tội, đem lại phần rỗi cho những ai biết đón nhận. Chúa Cứu thế đă hy sinh mạng sống ḿnh cho phần rỗi nhân loại, bằng con đường khổ nạn thánh giá. C̣n các môn đệ Ngài th́ sao? 3/ "Rồi Đức Giêsu nói với mọi người: 'Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ ḿnh, vác thập giá ḿnh hằng ngày mà theo. Quả vậy, ai muốn giữ mạng sống ḿnh th́ sẽ mất, c̣n ai liều mạng sống ḿnh v́ Thầy, th́ sẽ cứu được mạng sống ấy. V́ người nào được cả thế gian mà phải mất chính ḿnh, th́ nào có lợi ǵ'" (Lc 9,23-25). Chúa phán những lời trên đây một cách quả quyết, dứt khoát. Cho nên những người muốn theo Chúa Giêsu không nên tưởng ḿnh có quyền sửa đổi Lời Chúa, hoặc cho ḿnh có quyền được miễn trừ, được sống khác những Lời Chúa dạy. Khi những tâm niệm trên đây đă trở thành những xác tín sống động, vạch ra con đường cho cuộc sống, th́ người môn đệ Chúa phải t́m cách thực hiện. II. Thực Hiện Tâm Niệm Thực hiện tâm niệm trong t́nh h́nh mới tiếp xúc với các môn đệ Chúa tại Việt Nam hôm nay, tôi học được nhiều cách thực hiện. Các môn đệ Chúa gồm nhiều loại người, giáo dân, tu sĩ, giáo sĩ. Họ sống trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Họ thực hiện những điều xác tín trên bằng nhiều cách. Trong nhiều cách đó, thiết tưởng nên để ư mấy điểm quan trọng sau đây: 1/ Chu toàn bổn phận với tinh thần cầu tiến, nhất là bổn phận dùng thời giờ. Ở đây, xin đưa ví dụ riêng về hàng giáo sĩ. Người môn đệ Chúa trong hàng giáo sĩ phải tận dụng thời giờ Chúa ban, để thường xuyên đào tạo ḿnh và những người thuộc về ḿnh. Trong mục đích đó, ngài sẽ dành: - Thời giờ để cầu nguyện, suy gẫm, t́m học thêm các môn cần cho việc làm mới lại vốn liếng trí thức và phong cách người môn đệ Chúa hôm nay. - Thời giờ để giao tiếp, thăm viếng với mục đích mục vụ. - Thời giờ để hiện diện một cách nào đó có tính cách loan báo Tin Mừng giữa xă hội không công giáo tại Việt Nam hôm nay. - Thời giờ để dọn bài giảng và các đề tài để trao đổi, sao cho những người thiện chí xung quanh có thể nhận được từ ngài đôi chút t́nh người, đôi chút chân lư đạo đời hữu ích. - Thời giờ để t́m sức thiêng đặc biệt, hầu làm chứng cho Chúa trong những hoàn cảnh khó khăn nhất. 2/ Trau dồi về nhân bản nơi bản thân ḿnh. Thời nay, người môn đệ Chúa nên để ư làm chứng cho Chúa qua nhân bản của ḿnh. Cách làm chứng đó dễ gây được sức thuyết phục. Nhân bản có thể được thể hiện qua những thái độ này: - Nhạy bén với bất cứ sự thiện nào, dù sự thiện đó được thực hiện do bất cứ ai. - Mở ḷng ra với việc thiện gồm cả chiều kích cá nhân lẫn chiều kích xă hội, thí dụ tính chính xác và liên đới. - Vượt khó, để đi từ việc thiện này đến việc thiện khác. Sống nhân bản như thế là sống đạo làm người. Nó không cần mang nhăn hiệu tôn giáo, mà vẫn dọn đường đi về Đấng Tối Cao. 3/ Sáng suốt có những lựa chọn do tinh thần trách nhiệm đạo đức. Khi có nhiều phương tiện của thời phát triển, như nhiều tự do, nhiều tiện nghi, nhiều dễ dăi, người môn đệ Chúa sẽ biết tự chế ḿnh trong các lựa chọn, luôn luôn toả sáng t́nh yêu và hy sinh v́ phần rỗi các linh hồn. 4/ Đón nhận mọi thứ thánh giá Chúa gởi đến cho ta với ḷng khiêm tốn, dấn thân của môn đệ chân thành. Ta muốn được Chúa nhận ta như của lễ toàn thiêu. Của lễ này làm nên hạnh phúc của ta. Hạnh phúc ấy sẽ không tuỳ thuộc ở thành công hay thất bại, nhưng ở sự ta chu toàn thánh ư Chúa với những bước đi nhỏ của hành tŕnh ơn gọi. T́nh h́nh phát triển đang và sẽ tạo ra cho đồng bào ta một cuộc sống khác xưa. Ḷng đạo cũng sẽ bị ảnh hưởng không ít. Xin Đức Mẹ thương cầu bầu cho chúng ta, để dù trong hoàn cảnh nào, mỗi người tín hữu chúng ta được trở thành một ngọn đèn Tin Mừng trên Quê Hương Việt Nam, mà chúng ta luôn gắn bó trung thành● Trở về mục lục >>
?¶?
CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN - NĂM B MẶT SẤP – MẶT NGỬA CVK Nguyễn Thế Bài Quân bài trong một số loại cờ có hai mặt và mặt trái chỉ nhằm che dấu chi tiết của mặt bên kia, mặt phải, mặt để căn cứ theo đó mà tính toán, sát phạt hơn thua. Tự nó chẳng nói lên được điều ǵ! Người ta lật ngửa các quân bài khi tới hồi phân định thắng thua, song “ván bài lật ngửa” c̣n xảy ra ngay từ đầu, khi không muốn hoặc không thể dấu diếm nhau nữa, giữa các đối thủ thi thố mưu mẹo. Huy chương có hai mặt trái phải, nhưng thường th́ chỉ có một mặt được chạm đúc để chỉ ư nghĩa và thứ hạng của nó. Mặt trái thường vô dụng. Huy chương không mất giá, nhưng mau hết thời: cuối cùng chỉ c̣n là một kỷ niệm ! Đồng bạc xu th́ khác: cả hai mặt đều có công dụng riêng, dù cả hai mặt đều có một cái chung nhất: mệnh giá của đồng xu. Dù vậy, mặt phía bên có h́nh các nhân vật hoặc các h́nh tượng đặc trưng, bao giờ cũng được coi là mặt sấp, trong khi phía bên kia, mang h́nh quốc huy hoặc một “logo” nào đó, luôn được coi là mặt ngửa. Sấp ngửa của đồng tiền xu hay gặp thấy trong các trận thi đấu, khi trọng tài tung đồng xu lên và phe có “mặt” tương ứng sẽ có quyền chọn lựa, nếu “mặt” của ḿnh nằm trên. “Sấp, ngửa” cũng là “ván bài lật ngửa” trong đoạn Tin Mừng hôm nay, giữa những người có túi tiền, có kho vàng đầy ắp đối lập với một bà lăo chỉ có trong tay món tiền độ nhật nhỏ nhoi. Cuộc so găng tưởng như đă được phân định thắng bại rơ ràng. “Huy chương nào bao giờ cũng có mặt trái,” điều này muốn nhắn nhủ con người không chỉ những mặt xấu, mặt chưa tốt đi kèm theo sự thành công và thành đạt (mà tấm huy chương là một lời chứng thực hùng hồn nhất). Nhưng đồng bạc th́ không có mặt trái, mà chỉ có hai mặt sấp ngửa, giá trị vật chất như nhau dù xoay trở bên nào, nhưng ư nghĩa th́ thật là khác xa nhau. Đồng tiền luôn là cái để cân-đong-đo-đếm mọi sự khi có thể chuyển hoá giá trị của nó thành trị giá vật chất. Nó ở dưới quyền điều khiển của con người, dù chính nó có thể mua được cả con người. Giá trị của nó dễ dàng thay đổi, mất đi, do trượt giá hoặc do chế độ đă chế tác, in ấn, dập khuôn và phát hành nó đă không c̣n giá trị. V́ thế đồng tiền được coi là “vạn năng” và theo cách nói của giới trẻ Việt Nam, th́ tiền “là tiên, là phật; là sức bật của tuổi trẻ, là sức khoẻ của tuổi già, là cái đà của danh vọng, là cái lọng để che thân...” và “có tiền mua... tiên cũng được.” Song hôm nay có một điều ǵ khác lạ hơn: dường như Chúa Giê-su nhớ nhung Mẹ Người, cũng là một bà goá. Vừa xỉ vả thậm tệ mấy tay Kinh Sư, trong đó có nhắc đến việc họ chỉ giỏi hiếp đáp đàn bà con nít, nhất là các bà goá, th́ Chúa Giê-su lại ngồi nh́n việc thiên hạ bỏ tiền dâng cúng vào ḥm, Người trông thấy một bà goá – h́nh ảnh của Mẹ Người, cô đơn, nghèo khó nhưng luôn quảng đại và chân thành –Người bồi hồi xúc động. Việc bỏ hai đồng xu của bà goá này – tiền chi tiêu một ngày sống của người nghèo khó, già nua, goá bụa – chẳng phải là một biệt lệ, mà có thể nói đó là cách nghĩ, cách làm của rất nhiều bà goá, khi họ hiểu được giá trị của đồng tiền chân chính và giá trị nuôi sống của nó đối với bản thân họ, song đồng thời cũng v́ thế mà hiểu được giá trị hy sinh của họ. Những suy nghĩ và hành vi ấy không thể có được nơi người giàu có, khi đồng tiền kiếm được dễ dàng và cũng tiêu pha dễ dàng, thậm chí c̣n vung ra chỉ v́ một “cơn vui suốt sáng, trận cười thâu đêm”. Cho nên, họ cũng nhét những đồng bạc vào ḥm tiền, có khi c̣n nhét thật nhiều nữa là khác, song chỉ như một cử chỉ quen tay, nếu không muốn nói là với nhiều dụng ư phía sau: khoe khoang, tỏ ra hào hiệp, thậm chí để khinh khi hoặc dằn mặt kẻ khác cho biết tay! Phần thưởng họ nhận được là những ánh mắt tṛn xoe trầm trồ, những tiếng xuưt xoa thán phục, không loại trừ những câu se sua nịnh bợ. Và chấm hết! Trong khi những đồng xu nhỏ xíu nhưng lại mang nặng mặc cảm của bà góa ở trần gian, lại được Thiên Chúa đem cả Nước Trời để đánh đổi. Lạy Chúa, bài ca con muốn hát lên hôm nay, là lời cảm tạ, v́ Chúa đă chẳng căn cứ trên thành công, điạ vị, của cải ở đời này mà đánh giá con người, v́ đơn thuần tất cả mọi sự đều là của Chúa. Chúa chỉ muốn mọi công việc chúng con làm đều phát xuất từ đáy ḷng, với trọn tâm t́nh hiếu kính đối với Chúa và ḷng yêu mến kính trọng đối với tha nhân. Thiên Đàng và Hỏa Ngục không phải là “mặt sấp, mặt ngửa” của cuộc đời Ki-tô hữu, mà Thiên Đàng chính là “món hàng” chúng con phải vét đến đồng bạc cuối cùng để mua cho bằng được, như trong dụ ngôn “viên ngọc quư,” đó chính là sự chọn lựa “một mất một c̣n” cho sự sống đời đời; trong khi phải khôn ngoan sử dụng đồng tiền để không bao giờ biến nó thành giá mua... Hoả Ngục. Đồng tiền – dù là mệnh giá cao, chất liệu quư hiếm, hoặc chỉ là những đồng xu nhỏ – chỉ có giá trị khí được sử dụng đúng đắn, nghĩa là chia sẻ với tha nhân như một bổn phận, chứ không phải như “của bố thí”, sau khi đă chi dùng cho các nhu cầu chính đáng của bản thân và gia đ́nh. Lạy Chúa, con trích lại dưới đây cho Chúa về một câu chuyện thời sự nóng hổi, mà người Ki-tô hữu chúng con mà chịu khó lưu tâm, sẽ thấy thật sự hổ thẹn: Ngày 13 tháng 10 vừa qua, một chuyến xe của các cán bộ quận Phú Nhuận, từ Sài-g̣n đi uỷ lạo cứu trợ đồng bào bị băo tại Đà Nẵng, đă gặp tai nạn giao thông kinh hoàng ở Diên Khánh, Khánh Hoà. Trong số các nạn nhân chết thảm có anh Trần Đ́nh Liêm, chủ tịch UBND phường 13, là cán bộ đấy nhưng lại vẫn là một người nghèo chuyên tâm lo cho người nghèo. Người ta phát hiện gia đ́nh của anh Liêm, vợ chồng con cái bốn năm người lâu nay vẫn sống trong một căn hộ bé tí xíu đến không tưởng tượng nổi. Và chị Nguỵ Thị Phương Thảo đă quyết định trao tặng căn nhà một trệt một lầu trị giá 550 triệu đồng cho gia đ́nh anh Liêm. Chị cho rằng: “Tôi chỉ muốn làm một việc ǵ đó có ích cho người khác.” Chị Thảo là ai vậy? Chị là con lai Mỹ, đă trải qua tuổi thơ đói khổ, thiếu thốn cả vật chất và t́nh cảm, nhờ gặp cơ may giá nhà đất mà khá giả dần lên, nhưng t́nh thương đối với người nghèo luôn dạt dào trong chị. Chị đi làm việc từ thiện khắp nơi, lúc Miền Trung, khi lại về Miền Tây, chưa kể những món tiền 30, 50 triệu đóng góp thường xuyên. Cứ đến gần Tết âm lịch và rằm tháng bảy hằng năm, hàng trăm người cơ nhỡ, khuyết tật từ khắp nơi kéo nhau về nhà chị để nhận quà gạo, bánh. Căn nhà của chị trở thành mái ấm, điểm tựa cho những người khó khăn. Chị tâm sự: ”Một ngày, ngoài ba bữa cơm, tôi tự quy định không được tiêu xài cho ḿnh quá 5.000 đồng. Hoang phí mà làm ǵ, nên tiết kiệm dành dụm để có tiền cho những người khổ xung quanh...” Thật may, con cũng đă đọc được một tin vui, tin tốt lành khác liên quan đến một Ki-tô hữu: “Tôi xúc động được biết trong hoàn cảnh kinh tế c̣n khó khăn của một người làm nghề thợ xây, nhưng vợ chồng anh từ đầu năm 2004 đến nay đă đùm bọc, nuôi dưỡng tới 24 lượt trẻ sơ sinh bị bỏ rơi và những bà mẹ lỡ lầm... Anh chị đang làm những việc nhân nghĩa, quên ḿnh v́ người khác, không những là nơi nương tựa cho những mảnh đời bất hạnh, mà hơn thế c̣n là tấm gương cao đẹp của danh dự và nhân phẩm. Việc làm của anh chị, cùng với rất nhiều việc làm t́nh nghĩa khác trong cộng đồng vẫn đang nảy nở, sẽ như hoa thơm diệt trừ cỏ dại để hướng đến chân, thiện, mỹ...” Đây là đoạn trích trong thư của Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết gửi cho vợ chồng anh Tống Phước Phúc và Nguyễn Thị Lệ Yến, Giáo Dân Giáo Xứ Chính Ṭa Nha Trang ngày 23.10.2006. Từ mấy năm nay, cùng với một số anh em Giáo Dân Giáo Xứ Chính Toà, anh chị đă âm thầm t́m các thai nhi bị chết do nhiều nguyên nhân và chôn cất ở vùng đất do anh em bỏ tiền mua tại Ḥn Nghê, Nha Trang, vợ chồng anh lại c̣n đem hàng chục cháu bé sơ sinh bị bỏ rơi về nuôi dưỡng, dù thu nhập của một thợ hồ chẳng được là bao. Những đồng bạc lẻ đă tạo cho các cháu bé một cơi thiên đàng và chuẩn bị cho chính gia đ́nh anh Nước Trời. Anh và gia đ́nh đă bỏ vào ḥm tiền Nước Trời nhiều hơn hết. Lạy Chúa, con nhớ lại lời Gia Huấn Ca của cha ông Việt Nam chúng con, rằng: “Của tuy tơ tóc, nghĩa so ngh́n vàng!”● Trở về mục lục >>
?¶?
LƯƠNG TÂM Đỗ Trân Duy Chúng ta dễ dàng đồng ư rằng, dù sống ở đâu, dù trong một nền văn hóa kỳ dị nào, con người cũng đều tự nhiên biết điều thiện điều ác. Chẳng hạn xă hội nào cũng ca tụng vị anh hùng v́ nghĩa quên ḿnh. Ngược lại ai cũng coi khinh kẻ gian ác ích kỷ hại người. Mỗi cá nhân cũng đối diện với ư thức thiện ác để phản tỉnh về chính ḿnh. Khi cá nhân làm điều ǵ mà hắn cho là sai quấy, hắn buồn rầu và có mặc cảm tội lỗi. Khi làm điều ǵ mà hắn cho là phải đạo, hắn thấy hài ḷng. Chiếu theo phép lư luận, nếu chúng ta có tiền đề: “Bản tính con người là tự biết giá trị về thiện ác”, chúng ta sẽ có kết đề: “Trong đáy sâu của tâm có chứa sẵn một số tiêu chuẩn đạo đức mẫu giúp con người đánh giá sự việc.” Nguồn đạo đức ẩn tàng này được gọi là lương tâm. Con người sống trong sự kiểm soát của lương tâm là chuyện đương nhiên không cần bàn căi. Nhưng, lương tâm từ đâu mà có là vấn đề quan trọng cần câu trả lời rơ ràng. Cho đến nay chúng ta có hai lối giải đáp trái nghịch nhau. Một lối của những người theo trường phái Darwin, duy lư và vô thần. Để cụ thể hóa chúng ta tạm lấy ông tổ phân tâm học (psychoanalysis) Sigmund Freud làm đại diện cho nhóm này. Một lối khác của những người hữu thần. Chúng ta cũng tạm chọn một người làm đại diện là giáo sư C. S. Lewis, một học giả Thiên Chúa giáo. Lương Tâm Là Sản Phẩm Của Văn Hóa Hay Của Thiên Chúa? Học thuyết của Freud cho rằng: Những qui tắc đạo lư là sản phẩm văn hóa do kiến thức con người đặt ra. Nó cũng giống như khi chúng ta đặt ra luật lệ giao thông. Kinh nghiệm khôn ngoan của những đời trước được cha mẹ truyền dậy cho con cháu từ thuở ấu thơ. Con người dựa vào đó mà sống trong nhân cách và trật tự. Theo thời gian, những ư niệm đạo lư thấm nhập vào vô thức con người và trở thành lương tâm. Khi cả cộng đồng có chung một nền tảng đạo đức, ư thức đạo đức trở nên một động lực mănh liệt gọi là siêu ngă (super-ego) khống chế con người. V́ lương tâm là những giá trị do con người đặt ra, nên lương tâm thay đổi theo không gian và thời gian. Có những cái xứ này cho là đúng xứ khác cho là sai hoặc ngày xưa cho là đúng ngày nay cho là sai. Luận đề của Lewis th́ cho rằng: Lương tâm không do con người đặt ra. Con người chỉ khám phá ra nó mà thôi. Cũng giống như con người không đặt ra sức hút của trái đất. Con người chỉ khám phá ra sức hút này, nhờ đó mà biết sống phù hợp với luật trọng lượng. Nếu lương tâm không do con người đặt ra, vậy nó phải do Thiên Chúa đặt vào tâm trí con người. Cái đạo đức thay đổi theo không gian và thời gian chỉ là nền luân lư xă hội. Đạo đức khách quan, tức lương tâm, không biến đổi. Lewis giải thích thêm về luân lư xă hội. Kể từ khi con người có mặt trên địa cầu, con người đă biết việc ǵ nên làm việc ǵ nên tránh. Con người không bao giờ loại bỏ được ám ảnh này nhưng cùng lúc con người lại không tuân giữ được điều đó. V́ vậy xă hội đặt ra luật pháp để củng cố sự tuân phục lương tâm. Hệ thống luật pháp tự nó không phải là lương tâm. Chẳng hạn sau Thế Chiến II mọi quốc gia, mọi cá nhân, đều biết Đức Quốc Xă sai lầm. Nhưng tại sao chúng ta biết họ sai lầm? Hẳn phải có một cái gọi là “đúng” làm mấu chốt. “Đúng” phải có thật, không đổi, vượt trên văn hóa và thời gian, v́ nó là tiêu chuẩn để xét xử điều trái. Điều đáng ghi nhận là tập đoàn Đức Quốc Xă gồm những người có tŕnh độ học vấn cao. Điều đó chứng tỏ lương tâm không phải là kết quả của kiến thức như Freud lập luận. Điểm quan trọng trong học thuyết của Freud là sự thành h́nh của siêu ngă. Ông cho rằng cái mà những người hữu thần gọi là lương tâm, hay sức mạnh tâm linh, chỉ là dạng siêu ngă của tâm lư. Khi con người làm điều ǵ sai, con người đi ngược lại những tiêu chuẩn của siêu ngă. Giữa ngă (cái tôi) và siêu ngă có sự xung đột. Nếu ngă mạnh, siêu ngă bị lu mờ, con người vẫn b́nh thản. Nếu ngă yếu, kẻ phạm lỗi sẽ có mặc cảm lầm lỗi và có thể nặng tới mức bị bệnh tâm thần. Về điểm này Freud đă quá chủ quan. Nhà phân tâm học Jung nhận xét: đúng ra con người v́ mất định hướng trong cuộc sống mà bị bệnh tâm thần, hơn là bị khủng hoảng trong dồn nét giữa ư thức thiện và ác. Lewis đưa ra trường hợp một người anh có đứa em bị chết yểu. Người anh thường có mặc cảm tội lỗi. Hắn tự trách ḿnh đă không thương em cho đủ, khiến em phải chịu cảnh bất hạnh. Mặc cảm tội lỗi này xuất phát từ sự việc “không làm ǵ” chứ không phải “đă làm ǵ”. Ḷng ân hận này do t́nh yêu mà có. T́nh yêu đến từ lương tâm. Armand M. Nicholl, Jr. cho rằng Freud bị khúc mắc không t́m ra giải đáp trong liên hệ thiện ác và lương tâm. Thuyết siêu ngă không cung cấp đầy đủ câu trả lời cho vấn đề này. Với hai luận đề khác nhau về lương tâm, con người đă hướng đến hai nguồn học hỏi khác nhau. Nhóm của Freud đề cao kiến thức khoa học duy lư. Họ khẳng định trí thức của con người là thành quả duy nhất do khảo cứu khoa học mà có. Trái lại Lewis cho rằng khoa học không bao giờ là căn gốc trọn vẹn của sự hiểu biết. Khoa học không thể trả lời cho mọi vấn đề. Bên cạnh kiến thức khoa học c̣n có một một nguồn kiến thức quan trọng khác gọi là sự mặc khải. Khoa học có thể quan sát rồi cho biết hiện tượng xảy ra như thế nào, nhưng không thể trả lời hiện tượng từ đâu mà có. Ngay những câu hỏi siêu h́nh về nhân sinh của triết học do con người đặt ra, khoa học đă bị bí rồi. Nói chi đến việc trả lời cho lănh vực tâm linh không do con người đặt ra. Chỉ có mặc khải từ Thiên Chúa mới trả lời được cho những vấn nạn về tâm linh. Lương Tâm Dẫn Đến Ư Thức Về Tôn Giáo Lối nhận diện lương tâm của những người hữu thần đă dẫn đến tôn giáo. Triết gia Immanuel Kant nhận định luật đạo đức ẩn trong nội tâm là bằng chứng về sự hiện hữu của Thiên Chúa, tác giả của lương tâm. Lewis khai triển rằng từ ư thức về đạo nghĩa, chúng ta nhận ra sự hiện hữu của lương tâm. Từ lương tâm chúng ta nhận ra sự hiện hữu của Thiên Chúa. Từ Thiên Chúa chúng ta đón nhận tôn giáo do Người lập ra. Trong tôn giáo, chúng ta thấy sự kiện càng rơ ràng hơn. Chẳng hạn lời phán của Giavê được ghi trong sách Cựu Ước: “Ta sẽ đặt luật Ta trong trí chúng và sẽ viết luật Ta trong tim chúng” (Yr 31:33). Lời phán của Đức Giêsu được ghi trong sách Tân Ước: “Nước Trời ở trong ḷng các ông” (Lc 17:21). Freud không cho lập luận của triết học và của Thánh Kinh là hữu lư. Chúng là những điều vô bằng cớ và không thể chứng minh. Theo ông, chúng không có giá trị khoa học. Trong khi đó hệ thống luật pháp đối chiếu liên hệ giữa văn hóa và lương tâm là sự kiện rơ nét có thể chứng minh. Lewis cho rằng lương tâm tự biểu hiện, không cần chứng minh. Chẳng hạn chúng ta không thấy có lư do ǵ mà người láng giềng phải hy sinh hạnh phúc của họ cho chúng ta. Chúng ta “nh́n ra” sự đương nhiên là thế mà không cần chứng minh. Chúng ta “nh́n ra” mọi người đều b́nh đẳng. Nếu một điều không thể chứng minh, không có nghĩa là nó vô lư, nhưng chỉ v́ nó sẵn mang bằng chứng bởi chính nó. Dù thế nào, Freud vẫn phủ nhận có một Đấng siêu việt gọi là Thiên Chúa. Ông dùng phân tâm học đi sâu vào vùng bóng tối của vô thức để giải thích về sự liên hệ giữa lương tâm và tôn giáo. Cụ thể là ông đánh thẳng vào đức tin của Kitô giáo. Trong cuốn Vật Tổ và Điều Cấm Kỵ (Totem and Taboo) Freud cho rằng Chúa Cha là phóng ảnh của người cha. Câu nói nổi tiếng của Freud là: “Con người không được tạo ra theo h́nh ảnh Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa được con người tạo ra theo h́nh ảnh của người cha.” Freud dựa vào thuyết Darwin lập luận rằng con người từ thủa ban đầu sống trong chế độ bè nhóm. Trong đó người cha dùng sức mạnh để bảo vệ nhóm. Nhưng cũng với sức mạnh ấy, người cha trở thành thủ lănh chiếm trọn tài sản của nhóm kể cả đàn bà và con trẻ. Để bảo vệ vị thế chúa tể, người cha đè bẹp những đứa con trai bằng cách hành hạ chúng, hoặc giết chúng, hoặc đuổi chúng ra khỏi nhóm để tránh sự cạnh tranh. V́ vậy những đứa con trai sống trong cô đơn với tâm trạng vừa yêu cha, vữa ngưỡng phục, vừa sợ hăi, vừa hận ghét cha. Để sống c̣n, những đứa con trai quay trở lại nổi loạn giết cha của ḿnh và đoạt quyền lănh đạo. Từ đó những đứa con mang mặc cảm tội lỗi. Theo thời gian con người giải tỏa mặc cảm tội lỗi bằng cách thờ cúng vật tổ. Vật tổ thường là những con vật như gấu, sói, chim ưng… chúng là biểu tượng quyền lực của người cha. Người trong nhóm bị cấm không được giết vật tổ để tỏ ḷng tôn kính cha. Ngoài ra chúng c̣n tổ chức những buổi lễ thờ cúng vật tổ để thỏa ḷng hối hận. Từ đó phát sinh ra tôn giáo và người cha biến dạng thành thần linh. Freud cho biết tâm trạng vừa yêu vừa sợ vừa hận ghi dấu rơ rệt trong tâm trạng của mọi tín đồ dành cho Thiên Chúa của họ. Tôn giáo không hơn không kém chỉ là cơ chế ngụy trang để giải quyết ám ảnh xung đột của thời thơ ấu. Ám ảnh muốn được yêu thương, che chở, chiếm đoạt và hối hận. Ngôi vị người cha nguyên thủy được dùng làm khuôn mẫu (prototype) để tạo ra Thiên Chúa. Freud kết luận, một kẻ không giết người hàng xóm v́ Thiên Chúa cấm kị điều đó và Người dọa sẽ phạt hắn ở đời sau. V́ sợ Thiên Chúa nên hắn không dám giết người. Nhưng nếu hắn biết không hề có Thiên Chúa, th́ dù có giết người hàng xóm, hắn sẽ không bị phạt ở đời sau. Tuy nhiên hắn không thể giết người hàng xóm v́ hắn có học thức. V́ vậy học thức đă giải phóng con người. Ngược lại tôn giáo chỉ là một ảo ảnh tâm lư. Tôn giáo mang lại những cấm đoán, dọa nạt và nỗi sợ hăi làm mất tự do của con người. Lúc đầu học thuyết của Freud đă gây nên cơn chấn động lớn trên thế giới. Người ta nghĩ rằng đă đến lúc phải viết lại lịch sử nhân loại. Nhưng ít lâu sau, thuyết của Freud không được các nhà nhân chủng học chấp nhận. Họ phê b́nh học thuyết của Freud là loại truyện dă sử gán cho thời tiền sử. Theo họ, Freud là bậc đại tài về khoa phân tâm học, nhưng ấu trĩ về nhân chủng học. Lewis nhận xét Freud cố gắng phủ nhận thần tính của lương tâm bằng lối giải thích theo bệnh lư. Thiên Chúa vượt xa giới hạn h́nh ảnh một người phàm. Không thể dùng kinh nghiệm loài người để giải thích Thiên Chúa. Lewis thêm, giả dụ Freud có lư. Nói cho cùng nếu những đứa con ân hận v́ đă giết cha, vậy nếu không giết cha chúng sẽ không có ḷng ân hận. Cái phán xét đưa đến ḷng ân hận hay b́nh an ấy từ đâu mà đến? Rơ ràng nó (lương tâm) vẫn phải có sẵn trước khi sự việc giết cha xảy ra. Đối Với Những Người Gần Gũi Với Lương Tâm Đi sâu trong thế giới bệnh lư, Freud phúc tŕnh rằng những ai càng có ư thức về lương tâm sâu đậm bao nhiêu, như các vị thánh, càng là những người bị bệnh tâm thần nặng bấy nhiêu. Những người này luôn sống trong tâm trạng sầu khổ v́ có mặc cảm ḿnh là kẻ tồi tệ đáng bị phạt. V́ vậy họ thường trực sống trong lo âu ảm đạm. Họ thiếu bản tính an vui và thiếu sự hài ḷng tự tin về chính ḿnh. Thêm nữa những người này thường có một tŕnh độ rất thấp về khoa học. Cùng một sự kiện mặc cảm tội lỗi, nhưng Lewis nh́n ra nút mở trong ánh sáng tâm linh. Ông cho biết con người có những tŕnh độ phát triển về lương tâm khác nhau. Với một người có lương tâm cao, người ấy thấy rơ tội lỗi ở trong ḿnh, nên đau khổ. Người nào càng tranh đấu với sự xấu bao nhiêu càng biết rơ nó bấy nhiêu. V́ vậy người ấy luôn luôn đề cao cảnh giác và sống trong tâm trạng sám hối. Với một kẻ xấu xa, hầu như không có ư thức về lương tâm, nên hắn cũng không có ư thức về tội lỗi. Hắn cũng không có sự dằn vặt đau khổ khi phạm tội. Ai càng sống theo sự xấu bao nhiêu càng ít hiểu biết về nó bấy nhiêu. Do đó người xấu luôn luôn nghĩ là ḿnh phải. Họ sống an vui và hài ḷng về ḿnh. Theo Jung nhiều bằng chứng cho thấy sức mạnh của đức tin tôn giáo chữa lành tâm bệnh chứ không tạo ra tâm bệnh. Đạo hạnh mang lại sự sáng. U mê mang lại sự tối. Điều này không liên quan ǵ đến tŕnh độ hiểu biết khoa học. Gần đây Jean Milet dựa vào những hiện tượng không thể tiên đoán trong thế giới vi vật lư (microphysique) và lượng tử (quantum) phát biểu rằng, người càng ít hiểu biết về khoa học càng xa Thiên Chúa, càng hiểu sâu khoa học càng gần Thiên Chúa. Lương Tâm Là Khởi Điểm Cho Chúng Ta Tiếp Xúc Với Thiên Chúa Một câu hỏi làm nhức óc mọi thời đại là “lư do hiện diện của vũ trụ”. Vũ trụ ngẫu nhiên mà có và tự tồn tại hay do một Đấng thông minh siêu việt nào tạo nên. Nói cách khác “có Thiên Chúa hay không?” Câu trả lời không ai ngờ đă có sẵn bên trong mỗi người, đó là tiếng nói của lương tâm. Chúng ta đàm thoại với ông kiến trúc sư th́ dễ hiểu hơn là nh́n vào căn nhà do ông ta xây rồi phỏng đoán về ông. Cũng vậy, rất khó t́m Thiên Chúa qua cấu trúc vũ trụ, hay những h́nh thức bề ngoài. Tốt hơn hăy nghe tiếng nói của Người trong lương tâm của ḿnh. Lương tâm là ư thức để con người suy ngẫm về Thiên Chúa. Người không biết đến lương tâm làm sao có thể nh́n ra Đấng Tác Giả của lương tâm. Kẻ biết lương tâm nhưng không thấy căn gốc của nó cũng không thấy Thiên Chúa. Chúng ta có thể có nhận định ǵ về Freud và Lewis. Khởi đầu cả hai ông đều là những nhà trí thức (giáo sư đại học) và vô thần. Cả hai cùng nghe thấy tiếng nói của lương tâm. Một đàng, Freud không nhận ra đó là tiếng nói của Thiên Chúa nên tiếp tục là kẻ vô thần. Đàng khác, Lewis nhận ra đó là tiếng nói của Thiên Chúa nên trở thành tín đồ Thiên Chúa giáo. Hai thái độ lựa chọn này trở thành biểu tượng chung cho nhân loại trong ư chí tự do. Câu hát của thiên thần: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời. B́nh an dưới thế cho người thiện tâm” là cách nói về liên hệ giữa Thiên Chúa và con người qua lương tâm. Đức Giêsu hứa tha tội và cứu vớt những ai tin vào Người, nhưng kẻ vô thần không biết sự nối kết ấy làm sao họ nhận được ơn phúc. Thiên Chúa đau khổ “v́ ḷng chúng chai đá.” (Mc 3:5). “Chúng sai lạc từ đáy ḷng. Chúng chẳng biết đường lối Ta. V́ vậy chúng sẽ không bao giờ được an nghỉ trong Ta” (Tv 95:10-11; Hr 3:10-11)● Trở về mục lục >>
?¶? TruyỀn giáo hôm nay theo tỪng lỨA tuỔi Nguyễn Thảo Nam & Lê Xuân Hy Institute for Human Development, Seattle University, Washington
Vấn Đề Lớn Lao và Cấp Bách Mối quan tâm hàng đầu đối với Giáo Hội Hoa Kỳ trong những năm gần đây là số tín hữu Công Giáo rời bỏ Giáo Hội quá đông. Theo tài liệu thống kê trong những thập niên 80, khoảng 15 triệu người Công Giáo tại Hoa Kỳ rời bỏ Giáo Hội. Những anh chị em này thuộc mọi tầng lớp khác nhau, phần đông vào lứa tuổi từ 18 đến 24. Một khi họ đă ra đi, thật khó mong họ trở về. Nếu có ai đó ước mong trở lại, th́ thường phải đến mấy chục năm sau. Chẳng hạn một người bỏ Giáo Hội vào năm 1980, và lúc đó anh ta 20 tuổi, th́ năm nay anh đă là 43 tuổi rồi, và vẫn c̣n ở ngoài Giáo Hội. Số người ra đi từ những năm trước, lại cộng thêm nhiều người trẻ ra đi hàng năm, nên con số cứ măi tăng dần. Hội đồng Giám Mục Hoa Kỳ cũng như các chủ chăn băn khoăn, cố gắng t́m mọi cách níu kéo, và hy vọng con số lớn lao ấy ngày sẽ giảm đi trong những thập niên tới. Nhưng buồn thay, con số ấy chẳng những không giảm đi, mà lại vẫn tiếp tục gia tăng trong những năm gần đây. Cho đến nay, số anh chị em rời bỏ Giáo Hội tại Hoa Kỳ đă lên đến khoảng mười bảy triệu (17,000,000). Một con số khủng khiếp, một mất mát lớn lao. Sự ra đi của họ làm chúng ta đau ḷng. Giả sử nhóm người này gom lại thành một giáo phái, th́ giáo phái này sẽ có con số đông thứ hai so với tất cả các giáo phái trên đất Mỹ, và nhóm này đông gấp hai lần số người Công Giáo Việt Nam tại quê nhà cũng như rải rác khắp nơi trên thế giới. Cho đến nay, người ta ước tính có khoảng hơn 65 triệu người Công Giáo trong Giáo Hội Hoa Kỳ, nhưng lại mất đi hơn một phần tư -17 triệu - không c̣n tham dự vào đời sống Giáo Hội. Người ta “ước tính” khoảng 48 triệu người Công Giáo tại Hoa Kỳ c̣n sống đạo, có nghĩa là c̣n thỉnh thoảng lui tới nhà thờ và tham dự bí tích. Và trong số những người c̣n đến với Giáo Hội, có lẽ lại c̣n có rất nhiều người đang gặp khủng hoảng về đức tin, hoặc sống đạo hời hợt. Thực trạng này gợi cho chúng ta những suy tư về đối tượng truyền giáo hôm nay. Nếu truyền giáo xưa nay làm theo mệnh lệnh của Đức Kitô: rao giảng tin mừng cho muôn dân, rửa tội cho họ, đem anh em “lương dân” trở về với Chúa, th́ truyền giáo ngày nay lại đ̣i hỏi một nhu cầu mới, đó là làm như Đức Kitô đă làm: “đi t́m con chiên lạc,” “t́m đồng bạc bị đánh rơi,” là mở rộng ṿng tay của người cha trong dụ ngôn “người con hoang đàng” để đón nhận cả đứa con đi hoang, lẫn người con càm ràm về trong tổ ấm gia đ́nh của cha ḿnh. Sự gắn bó trong các cộng đoàn xứ đạo đang rời rạc lắm rồi. Trong các Hội Thánh Tin Lành có chương tŕnh membership, họ sinh hoạt từng Hội Thánh tương đối nhỏ và phải đóng tiền quỹ hàng năm, nên các Mục sư có thể biết rơ ai c̣n sống đạo hoặc ai đă bỏ đi. Trong khi đó, các giáo xứ Công Giáo khá lớn mà lại ít linh mục cũng như tu sĩ nam nữ, sinh hoạt cộng đồng chỉ nổi bật ở một số nhóm và đoàn thể, nên số đông c̣n lại, đến hay đi mà chẳng mấy ai biết tới. Người có thể biết rơ nhất ai c̣n, ai bỏ đó là người thân thuộc trong gia đ́nh hoặc bạn bè thân hữu. Thế th́ những người bỏ Giáo Hội này chẳng là ai xa lạ, mà có khi là con em của chúng ta, là bè bạn, là xóm giềng, là đồng nghiệp, là những người ḿnh gặp gỡ mỗi ngày nơi công sở, là đứa bạn ngồi chung một bàn trong lớp học, là đứa bạn cùng chơi thể thao với ḿnh mỗi chiều, v.v... Họ có mối quan hệ thân thiết với chúng ta trong gia đ́nh, trong ḍng tộc, trong t́nh người. Họ có mối quan hệ với chúng ta trong Thân Thể Mầu Nhiêm Đức Kitô--Giáo Hội. Nên khi họ ra đi, ḿnh cảm thấy nhói đau. Nguyên Nhân Đa Dạng Theo lối nói Việt Nam chúng ta, có người cho rằng những anh chị em này đă bỏ đạo chăng! Không, họ không bỏ đạo, họ không chối bỏ niềm tin. Họ chỉ không c̣n tha thiết ǵ với Giáo Hội, với cộng đoàn, với đời sống bí tích. Hàng ngàn cuộc phỏng vấn cho biết có khoảng tám mươi lăm phần trăm số người này vẫn nghĩ đến việc lo cho con cái học hành các lớp ở nhà thờ trong tương lai. Như thế, họ không phải là những người khủng hoảng niềm tin. Họ khủng khoảng v́ cơ chế, v́ luật lệ, và xung khắc với những con người trong cơ chế ấy. V́ sao họ ra đi? Hàng loạt cuộc nghiên cứu tiến hành trong vài chục năm qua cho biết có nhiều nguyên nhân khiến họ bỏ Giáo Hội. Đơn cử một số nguyên nhân do Hội Đồng Truyền Giáo Hoa Kỳ nêu lên, có thể đó là những xung đột trong gia đ́nh. Những người này là một số bạn trẻ, lớn lên trong một nền văn hóa tương đối tự do và cởi mở. Họ có khuynh hướng “giữ đạo” theo chiều hướng cá nhân hơn là bị ép buộc bởi lối sống đạo đức truyền thống của bố mẹ. Bắt nguồn từ một lối sống nặng tính cá nhân, nên cách sống đạo cũng thiên về sống đạo cá nhân. Họ cho rằng tôn giáo là mối quan hệ giữa cá nhân với Thiên Chúa, không nhất thiết phải lệ thuộc vào một cơ chế của Giáo Hội. Do đó, những bạn trẻ này thường phản ứng mạnh mẽ trước những lời khuyên răn nặng tính luân lư của bố mẹ. Những phản ứng này thường tạo nên bầu khí căng thẳng giữa hai thế hệ, và kết quả cuối cùng dẫn đến là thôi việc đến nhà thờ hoặc nghỉ luôn các sinh hoạt tôn giáo. Một số bạn trẻ khi rời tổ ấm gia đ́nh v́ xung đột, th́ cũng là lúc họ bỏ luôn cả Giáo Hội. Tuy nhiên, không phải ai bỏ nhà ra đi cũng bỏ luôn Giáo Hội. Nhưng nếu những bạn trẻ nào có xung khắc về vấn đề tôn giáo ngay trong gia đ́nh, th́ họ có khuynh hướng thôi việc giữ đạo. Nhóm người thứ hai, không bất kỳ ở lứa tuổi nào, một khi bị tổn thương do Linh mục, tu sĩ hoặc những người lănh đạo gây nên, thường có khuynh hướng bất măn và dẫn đến bỏ luôn Giáo Hội. Có khi là những kinh nghiệm đau ḷng từ những lớp giáo lư, sinh hoạt đoàn thể. Có khi là những vấn nạn cá nhân, thay v́ cần được nâng đỡ th́ lại bị xúc phạm. Hoặc có khi chính các mục tử không nhạy bén với những hoàn cảnh đặc biệt của họ, hoặc gây thêm khó khăn cho họ trong một số trường hợp như tang chế, cưới hỏi, rửa tội v.v... Những anh chị em này cần được lắng nghe từ phía Giáo Hội. Có khi trong sự khiêm tốn của Đức Kitô, các vị lănh đạo có thể gởi lời xin lỗi, thông cảm, giao ḥa và mời gọi chính đương sự trở về với cộng đoàn Giáo Hội. Đây là những phút giây ân sủng quư báu, và chính các mục tử hay những người cộng tác là khí cụ của ḍng ân sủng đó. Nhóm người thứ ba là các bạn trẻ, những người không cảm thấy sự hiện diện của Thiên Chúa trong các cộng đoàn giáo xứ bởi v́ phụng vụ buồn tẻ, bài giảng lạnh nhạt không hồn hoặc nặng tính luân lư. Trong khi người trẻ muốn cảm nghiệm được có sự hiện diện thực sự của Thiên Chúa trong một cộng đoàn đức tin, th́ họ lại gặp phải những kinh nghiệm ngược lại. Họ không cảm thấy những người chung quanh có sự gắn bó sâu đậm với Đức Kitô. Họ cảm thấy thánh lễ như một thói quen, hoặc đến nhà thờ v́ lề luật chứ không thấm sâu trong đời sống tâm linh. Các bạn không cảm thấy thánh lễ lôi cuốn họ đủ. Theo các cuộc phỏng vấn với các bạn trẻ đă bỏ thánh lễ lâu ngày, phần đông phản ứng mạnh mẽ với các bài giảng buồn tẻ, và phụng vụ nhàm chán. Vấn đề này cần được đặt ra từ cả hai phía. Một mặt, nhiều người Công Giáo hôm nay không được đào tạo để có ư thức xây dựng cộng đoàn. Họ đến với cộng đoàn để nhận lănh, nhưng lại thiếu ư thức đóng góp. Chính v́ vậy, khi cộng đoàn không đáp ứng nhu cầu tâm linh cho họ là họ rút lui hoặc đi t́m đến các giáo phái Tin Lành. Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tiêu cực từ phía những người bỏ đi, những người ở lại cũng cần suy tư xem thử ḿnh nên làm ǵ để bầu khí thờ phượng cũng như các sinh hoạt cộng đoàn trở nên sinh động hơn. Chẳng hạn một bài giảng có chiều sâu và thấm chất Tin Mừng sẽ thu hút được nhiều bạn trẻ, v́ chính họ đang khao khát cuộc sống tâm linh. Một ca đoàn chuẩn bị chu đáo và hát xướng tâm t́nh sẽ lôi kéo được nhiều bạn trẻ đến với giáo xứ ḿnh. Theo những cuộc nghiên cứu mới nhất với giới trẻ tại Hoa Kỳ trong năm qua, các bạn cho biết có hai điều lôi cuốn họ đến với thánh lễ: đó là bài giảng sâu sắc và thánh nhạc sinh động. Bên cạnh nội dung và chất lượng của phụng vụ, nhiều người cần đến bầu khí thân mật, gần gũi và gắn bó của những người trong cùng họ đạo. Sự gắn bó này đóng một vai tṛ thiết yếu trong việc giúp người khác ở lại với cộng đoàn Giáo Hội. Hiện nay, phần đông giáo hữu tây phương sống đạo theo lối cá nhân, nên khi đến với Giáo Hội họ cũng đến với thái độ cá nhân. Chính v́ lối sống đạo cá nhân, ḿnh ít khi để ư đến người chung quanh, những người cùng tham dự phụng vụ và sinh hoạt tôn giáo với ḿnh. Đôi khi một cái bắt tay trong khi chúc b́nh an cũng gượng ép, lạnh lùng. Từ một thực trạng như thế, một số người cảm thấy họ quá xa lạ với cộng đoàn. Họ cảm thấy ḿnh là một khán giả vô danh trong một nhà hát nhàm chán. Chính lư do này cũng khiến một số người không c̣n hào hứng đến với cộng đoàn. Một số trong họ t́m đến các Hội Thánh Tin Lành, nơi mà họ cảm thấy được ân cần tiếp đón và có bầu khí thân mật t́nh người. Họ cảm thấy ḿnh được quan tâm và có giá trị trong một cộng đoàn tôn giáo. Điều này thật dễ hiểu, bởi v́ chẳng ai muốn tham gia vào một tổ chức mà nơi đó tất cả đều xa lạ với nhau. Có lẽ đây cũng là vấn đề gợi cho chúng ta suy tư. Đôi khi ḿnh “sốt sắng quá”, chỉ nghĩ đến Chúa mà quên người anh em bên cạnh chăng! Thái độ nghiêm trang thái quá đôi khi lại trở thành dửng dưng lạnh lùng. Lối sống đạo xưa nay khắt khe đến độ ngại nở một nụ cười ở trong nhà thờ, nên hôm nay ḿnh cũng nh́n nhau bằng ánh mắt tôn giáo nghiêm nghị với nhau. Những anh chị em rời Giáo Hội v́ lư do này có lẽ đang khao khát một nụ cười, hay một lời chào đón từ những người trong Giáo Hội. Họ sẽ sẵn sàng quay về, nếu có ai đó thực sự quan tâm đến họ. Ngoài những vấn đề nêu trên, có một vấn đề tương đối gai góc hiện nay đó là vấn đề giáo huấn về luân lư của Giáo Hội. Một số đông bạn trẻ giằng co với những giáo huấn của Giáo Hội về vấn đề t́nh dục trước hôn nhân, ngừa thai nhân tạo, li dị, v.v... Nhiều bạn trẻ phản ứng lại quyền giảng dạy của Giáo Hội về những vấn đề này. Một số khác không phản đối mạnh mẽ, nhưng khi đă quan hệ t́nh dục ngoài hôn nhân, hoặc ngừa thai nhân tạo, thường ngại đến xưng tội và lănh nhận bí tích. Khi không được nuôi dưỡng bằng đời sống bí tích, các bạn trẻ thường có khuynh hướng xa dần đời sống đạo và cuối cùng quyết định thôi hẳn. Bên cạnh những người độc thân, một số người trong đời sống gia đ́nh khi áp dụng ngừa thai nhân tạo cũng có phản ứng mạnh với huấn quyền Giáo Hội. Họ yêu cầu Giáo Hội cần thay đổi lối giảng dạy về luân lư. Thật vậy, đây là một vấn đề tương đối phức tạp trong vấn đề sống đạo giữa một nền văn hóa tự do tại Hoa Kỳ và các nước Châu Âu. Thật ra, trên b́nh diện luân lư, có những vẫn đề Giáo Hội không thể thay đổi theo năo trạng của người đương thời. Có những vấn đề Giáo Hội có thể thay đổi, nhưng không thể thay đổi trong ngày một ngày hai. Cơ cấu của Giáo Hội như một guồng máy hoạt động trên cả hoàn vũ, nên có khi phải mất cả thế kỷ để thay đổi một vấn đề nào đó. Chúng ta có thể nhận ra sự phức tạp này khi trong chính xứ đạo ḿnh có sự thay đổi. Ngay việc đơn giản nhất là khi thay đổi giờ giấc Thánh lễ đă làm xáo trộn sinh hoạt của một giáo xứ, và gây nên phản ứng của biết bao người. Tuy vậy, nhiều người trẻ hôm nay không chấp nhận quyền giảng dạy về luân lư của Giáo Hội, nên họ từ từ rút lui khỏi Giáo Hội. Vấn đề này cần đặt ra cho những nhà giáo dục trong Giáo Hội hôm nay. Một mặt ḿnh phải tŕnh bày huấn quyền của Giáo Hội, nhưng mặt khác phải nên tŕnh bày vấn đề luân lư dựa trên tính nhân bản và phẩm giá con người để thuyết phục các bạn trẻ về vấn đề luân lư. Do đó, các nhà giáo dục cần đào sâu thêm những tài liệu về nhân bản để đi kèm với Giáo huấn của Giáo Hội trong khi giảng dạy. Một nhóm người khác thôi giữ đạo v́ không có nền tảng căn bản về tôn giáo, nên dễ bị tấn công và bị lôi kéo sai đường do chính bè bạn của ḿnh. Bên cạnh đó, có một số bạn trẻ cặp bạn rồi chung sống hoặc kết hôn với người ngoài Công Giáo, rồi dần dần cảm thấy nguội lạnh khô khan, hoặc chính bạn ḿnh thuyết phục từ bỏ Giáo Hội. Một số người khác rời bỏ cộng đoàn v́ phải thay đổi nếp sống và chỗ ở, nên mất liên đới với cộng đoàn cũ của ḿnh và ngại t́m tới cộng đoàn mới. Biết đâu những anh chị em này lại là người đang sống loanh quanh trong lối xóm của ḿnh và họ cần một ai đó bắc nhịp cầu đê liên kết với một cộng đoàn mới. Truyền giáo hôm nay là thế, là bắc một nhịp cầu để anh em ḿnh trở về, là cố gắng xóa đi những rào chắn ngăn cách vô h́nh giữa những anh em trong cùng một tôn giáo. Một khi họ nhận ra có một cộng đoàn nào đó yêu thương và |